Loading...
Get Adobe Flash player

Đăng nhập

Liên kết website

Thống kê truy cập

00062878
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tổng số
23
41
64
62419
835
2229
62878

IP của bạn: 54.163.20.57
2018-11-20 16:07

Thông tư hướng dẫn thực hiện Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam với Liên minh Kinh tế Á Âu

 

Hiệp định thương mại tự do giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Liên minh Kinh tế Á Âu và các quốc gia thành viên Liên minh (FTA VN-EAEU) được ký tại Burabai (Kazakhstan) ngày 29 tháng 5 năm 2015 và có hiệu lực từ ngày 05 tháng 10 năm 2016.

 

 

 

(Ảnh minh họa.Nguồn: Internet) 

 Nhằm hướng dẫn việc thực hiện các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 21/2016/TT-BCT ngày 20 tháng 9 năm 2016 hướng dẫn thực hiện Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á Âu. Thông tư ban hành kèm theo các Phụ lục về:

- Quy tắc xuất xứ;

- Quy tắc cụ thể mặt hàng;

- Danh sách quốc đảo;

- Mẫu C/O và hướng dẫn kê khai C/O; và

- Danh sách Tổ chức cấp C/O.

Quy tắc xuất xứ của Hiệp định FTA VN-EAEU có một số điểm cần lưu ý như sau:

1. Điều khoản Tạm ngừng ưu đãi

Hiệp định FTA VN-EAEU FTA cho phép bên nhập khẩu tạm ngừng ưu đãi thuế quan nếu phát hiện có gian lận xuất xứ hoặc nước xuất khẩu không hợp tác xác minh xuất xứ một cách có hệ thống. Bên nhập khẩu áp dụng ngừng ưu đãi theo từng bước:

- đối với lô hàng vi phạm;

- đối với hàng hoá của các doanh nghiệp có liên quan;

- đối với toàn bộ hàng hoá giống hệt theo phân loại danh mục hàng hoá (HS cấp độ 8-10 số) nếu các biện pháp trước không đủ để ngăn chặn các hành vi gian lận.

Trước khi áp dụng điều khoản, hai bên phải thực hiện quy trình tham vấn chặt chẽ để khắc phục vấn đề. Thời gian áp dụng tạm ngừng ưu đãi là 04 tháng và được phép gia hạn 03 tháng.

Doanh nghiệp cần phân biệt Điều khoản Tạm dừng cho hưởng ưu đãi nêu trên và Điều khoản Từ chối cho hưởng ưu đãi. Điều khoản Từ chối cho hưởng ưu đãi chỉ áp dụng đối với lô hàng có nghi ngờ gian lận xuất xứ tại thời điểm nhập khẩu. Quy định này không áp dụng đối với hàng hóa liên quan hoặc doanh nghiệp liên quan. Lô hàng sẽ được hưởng thuế quan ưu đãi sau khi có kết quả xác minh đạt xuất xứ theo Hiệp định FTA VN-EAEU.

2. Điều khoản Mua bán trực tiếp

Điều khoản này cho phép áp dụng hoá đơn nước thứ ba ngoài Hiệp định nhưng loại trừ một số quốc đảo phía Liên minh Kinh tế Á Âu cho rằng có nguy cơ gian lận thương mại. Do chính sách thuế của các quốc đảo này (thuế nhập khẩu 0%), hàng hóa tăng khả năng gian lận thuế khi có sự tham gia phát hành hóa đơn của công ty trung gian đặt trụ sở tại các quốc đảo đó. Các cơ quan có thẩm quyền của hai bên đã đàm phán, xây dựng danh mục 30 quốc đảo không được áp dụng hóa đơn nước thứ ba khi hàng hóa xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á Âu.

3. Quy định về hợp tác hành chính

Hiệp định FTA VN-EAEU yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hai bên thông báo mẫu con dấu của tổ chức được ủy quyền cấp Giấy chứng nhận xuất xứ theo Hiệp định FTA VN-EAEU (C/O EAV). Đây là một bước tiến hơn hẳn so với nhiều FTA Việt Nam đã ký khi các FTA yêu cầu thông báo mẫu con dấu và mẫu chữ ký của cán bộ cấp C/O. Quy định mới trong Hiệp định FTA VN-EAEU tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong quá trình thông quan hàng hóa khi khác biệt về mẫu chữ ký không còn là nguyên nhân khiến C/O bị ngi ngờ tính xác thực.

4. Quy định về mức linh hoạt (de minimis)

Hiệp định FTA VN-EAEU cho phép áp dụng nguyên tắc linh hoạt 15% tính theo giá FOB đối với đơn vị sản phẩm hoặc bộ sản phẩm. Ví dụ, một bộ sản phẩm gồm nhiều sản phẩm đơn lẻ vẫn được coi là có xuất xứ khi 15% trị giá tổng sản phẩm không đạt xuất xứ. Mức linh hoạt này là 15% tính theo giá xuất xưởng trong khuôn khổ GSP và 10% theo giá FOB tại các FTA Việt Nam đã tham gia.

5. Quy định về C/O EAV

C/O EAV không hạn chế số lượng mặt hàng khai báo khi cho phép sử dụng tờ khai báo đính kèm C/O. Các bên nỗ lực triển khai áp dụng Hệ thống Xác minh và chứng nhận xuất xứ điện tử (EOCVS) không muộn hơn 2 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực. Mục tiêu của EOCVS là việc xây dựng cơ sở dữ liệu mạng ghi lại thông tin của C/O EAV để kiểm tra tính xác thực.

6. Quy định về công đoạn gia công đơn giản

Nhằm ngăn chặn gian lận thương mại, tránh tình trạng hàng hóa từ nước thứ ba chuyển tải qua một bên tham gia Hiệp định rồi tiếp tục xuất khẩu sang bên kia để được hưởng lợi thông qua Hiệp định FTA VN-EAEU, quy định về công đoạn gia công đơn giản được thiết kế chi tiết, phù hợp với quy trình sản xuất hàng hóa, đảm bảo đúng hàng hóa có xuất xứ được hưởng ưu đãi thuế quan.

7. Quy tắc cụ thể mặt hàng

Khác với quy định về quy tắc chung và quy tắc riêng tại đa số FTA Việt Nam đã ký, Quy tắc cụ thể mặt hàng Hiệp định FTA VN-EAEU được tích hợp tại một Danh mục theo biểu thuế ở cấp độ HS 6 số. Tiêu chí xét xuất xứ đối với hàng hóa có xuất xứ không thuần túy bao gồm (a) hàm lượng giá trị gia tăng VAC (Value Added Content), (b) chuyển đổi mã số hàng hóa CTC (Change in Tariff Classification) hoặc (c) công đoạn sản xuất cụ thể.

Các dòng hàng áp dụng tiêu chí VAC chủ yếu ở mức 40% trị giá FOB, tương đương RVC40% trong các FTA Việt Nam ký cùng ASEAN. Riêng một số mặt hàng cần bảo hộ như máy móc, ô tô, VAC áp dụng là 50-60%FOB. Các dóng hàng áp dụng tiêu chí công đoạn sản xuất cụ thể gồm máy móc, phương tiện, sắt thép, dệt may, …

Nội dung chi tiết của Thông tư số 21/2016/TT-BCT xem tại http://www.moit.gov.vn/vn/Pages/ChiTietVanBan.aspx?vID=15010

( Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương - http://www.moit.gov.vn)

 

Phí, phụ phí xuất nhập khẩu: Giảm không đáng kể

Theo nhiều doanh nghiệp, những nỗ lực cải cách thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) hàng hóa tuy góp phần giảm đáng kể chi phí nhưng chưa được như kỳ vọng.

Ảnh minh họa, nguồn Internet

Ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn - Thứ trưởng Bộ Tài chính - cho biết: Thủ tục XNK hàng hóa theo “Cơ chế một cửa quốc gia” đã giúp thời gian thông quan hàng hóa giảm trung bình từ 23 ngày trước đây xuống còn 12-13 ngày. Nếu nhân số ngày hàng hóa chờ thông quan đã giảm, không phải lưu ở cửa khẩu hay bến cảng với 6,7 triệu lô hàng XNK doanh nghiệp thực hiện trong năm 2014, khoản chi phí tiết kiệm được không nhỏ.

Bên cạnh đó, việc làm thủ tục cấp chứng nhận C/O FormD ưu đãi đối với hàng hóa XNK có xuất xứ ASEAN (Bộ Công Thương quản  lý) hoặc các thủ tục liên quan do các bộ, ngành khác quản lý trên Cổng Thông tin một cửa quốc gia, ước tính doanh nghiệp giảm được thời gian và chi phí hành chính từ 15-30% so với trước.

Tuy nhiên, đánh giá 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 19 ngày 12/3/2015 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia giai đoạn 2015-2016, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, cải cách thủ tục hải quan và quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa XNK khẩu chưa đạt yêu cầu đề ra. Ngoài vướng mắc, bất cập về thủ tục hành chính, các loại phí, nhất là phí đối với hàng hóa XNK, doanh nghiệp vẫn chưa hài lòng. Theo phản ánh của một số doanh nghiệp, để hoàn thành thủ tục một lô hàng XNK họ vẫn phải chi trả khoảng trên 20 loại phí chính thức và không chính thức.

Các chuyên gia dự án Quản trị Nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện (GIG) dẫn báo cáo khảo sát về chỉ số thương mại qua biên giới (TAB) phản ánh: Có tới 95,5% doanh nghiệp cho rằng tổng chi phí hoàn thành XNK một lô hàng (chưa kể thuế, cước phí vận tải quốc tế, bảo hiểm) trong năm 2015 không thấp hơn, thậm chí còn cao hơn năm 2014; 86% doanh nghiệp cho biết chi phí kiểm dịch vẫn như năm 2014 hoặc cao hơn; 97,4% doanh nghiệp đánh giá chi phí kiểm tra an toàn thực phẩm vẫn như năm 2014…

Bên cạnh đó, hàng hóa XNK còn bị nhiều hãng tàu vận tải áp các loại phí, phụ phí ở mức cao với tổng chi phí cao gấp 2-3 lần cước vận tải. Bà Đặng Phương Dung - Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may – bức xúc: Các hãng tàu đã thu phí vận đơn (B/L) còn thu phí chứng từ, phí CFS (phí hàng lẻ), phí nâng hạ container, phí đại lý, phí dịch vụ xếp dỡ container…

 

Doanh nghiệp Việt Nam XNK thường bán giá FOB, mua giá CIF. Tuy không trả cước vận chuyển nhưng phải trả phí, phụ phí nên các hãng tàu thường tăng mọi chi phí vào phí, phụ phí.

                                                                                                                                                                                        Nguồn: Lan Ngọc -Báo Công Thương Điện Tử

Logistics sẽ hưởng lợi ngay từ TPP

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, việc mở cửa thị trường hàng hóa, XNK ngày càng tăng chính là điều kiện tiền đề cho việc mở rộng nhu cầu vận chuyển, cung ứng, kho bãi… khiến các dịch vụ logistics phát triển mạnh. Như vậy, lĩnh vực logistics sẽ được hưởng lợi ngay lập tức khi TPP có hiệu lực


Cơ hội vàng

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam, thị trường logistics tại Việt Nam có tiềm năng phát triển rất tốt.  Hệ thống vận tải và logistics thương mại ngày càng cạnh tranh của Việt Nam có thể trở thành nhân tố mới thúc đẩy nền kinh tế quốc gia tăng trưởng bền vững, nâng cao năng suất lao động cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.  Hiện nay, các công ty nước ngoài vẫn đang chiếm lĩnh thị trường logistics Việt Nam, đặc biệt là trong phân khúc vận tải quốc tế. Có khoảng 40 công ty vận tải biển nước ngoài tại Việt Nam, xử lý hơn 80% lượng hàng NK và XK của cả nước, chủ yếu trao đổi thương mại với thị trường Mỹ và châu Âu.

Là một trong công ty hàng đầu về dịch vụ logistics, ông Nguyễn Năng Toàn, Giám đốc SNP Logistics thuộc Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn cho biết, TPP đã kết thúc đàm phán, khi chính thức có hiệu lực, XNK của Việt Nam sẽ  tăng cao. Như vậy, các công ty logistics Việt Nam có thêm nhiều công ăn việc làm, có nhiều lượng hàng để XNK hơn, nhờ có lượng hàng tăng lên thì giá thành vận tải giảm hơn, đó là điều tốt cho lĩnh vực logistics, đồng thời kích thích sự phát triển của doanh nghiệp XNK Việt Nam.

Mặt khác, các chuyên gia cũng cho rằng, TPP cũng sẽ là cơ hội vàng để các doanh nghiệp logistics Việt Nam tận dụng cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng trong khu vực, nâng cao chất lượng dịch vụ. Phần thủ tục hải quan khai thác phải chuyên nghiệp hơn, có hệ thống khai báo tốt hơn, cung cấp dịch vụ kho bãi cũng phải đạt tiêu chuẩn quốc tế thay vì kho bãi kém như hiện nay, việc vận chuyển phải đúng giờ hơn. Tất cả các chuỗi cung ứng của cho khách hàng phải đạt tiêu chuẩn tốt hơn.

Hiện nay, chi phí cho hoạt động logistics tại Việt Nam đang chiếm đến 25% GDP, trong khi tại các nước phát triển tỷ lệ này chỉ từ 10-13%. Do vậy, việc tham gia vào TPP sẽ giúp giảm chi phí logistics, góp phần tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa của một quốc gia.

Hiện đại, chuyên nghiệp

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam, hiện có hơn 1.300 công ty logistics đang hoạt động tại Việt Nam. Mặc dù số lượng các doanh nghiệp nội địa chiếm 80% tổng số doanh nghiệp logistics, song họ chỉ chiếm lĩnh khoảng hơn 20% tổng thị phần. Chính vì thế sự hợp tác giữa các quốc gia sẽ mang lại lợi ích cho thị trường logistics của Việt Nam trong việc chia sẻ kiến thức về thị trường, thiết lập mạng lưới kinh doanh cũng như giúp các nhà cung ứng dịch vụ nội địa phát triển nhằm quản lý những hoạt động logistics chuyên ngành như thủ tục hải quan…

Tham gia vào TPP đòi hỏi tính chuyên nghiệp, hiện đại trong dịch vụ logistics. Để đón đầu cơ hội, nhiều DN đã đầu tư kho bãi, máy móc hiện đại. Tháng 8 vừa qua, Công ty Cổ phần Transimex - Saigon đã khởi công xây dựng Kho ngoại quan và Trung tâm logistics tại khu công nghệ cao TP.HCM trên tổng diện tích hơn 10 hecta, với mức đầu tư 600 tỷ đồng và sẽ hoàn thành vào tháng 3-2016. Trung tâm logistics tại khu công nghệ cao bao gồm hệ thống Kho ngoại quan, Kho bảo thuế, Kho CFS (container-freight station), Kho thường, Kho lạnh, và bãi chứa container với chức năng hoạt động như là một điểm thông quan nội địa ICD. Kho được trang bị hệ thống khung kệ chứa hàng bảy tầng, có camera giám sát 24/7, phần mềm quản lý hiện đại, hệ thống phòng cháy chữa cháy đạt tiêu chuẩn để có thể lưu giữ các sản phẩm công nghệ cao theo nhu cầu của khách hàng.

Với vị trí nằm gần đường vành đai 2, TP.HCM kết nối với các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu và các cảng chính của TP.HCM, Trung tâm này sẽ tập trung phát triển dịch vụ logistics tích hợp trọn gói và đồng bộ các phương thức vận chuyển từ đường bộ, đường thủy và đường hàng không. Việc đầu tư Trung tâm logistics tại khu công nghệ cao nhằm đáp ứng nhu cầu kịp thời của thị trường, đồng thời hiện thực hóa mục tiêu chiến lược kinh doanh và tầm nhìn từ nay đến năm 2020 của Transimex -Saigon nhằm trở thành một tập đoàn logistics đa năng và chuyên nghiệp.

Tiếp đó, TBS Logistics đầu tư kho có diện tích 47.500m2, với các trang thiết bị tiêu chuẩn, hiện đại như: Camera, hệ thống báo cháy và chữa cháy tự động; tôn lấy sáng, tiết kiệm năng lượng; phần mềm quản lý kho CFS. Được thiết kế với 58 cửa nhập/xuất hàng và 174 container cùng một lúc, sản lượng bình quân 8.000 khối/ngày - tương đương 160 container. Kho 5 là kho hàng hóa nằm trong hệ thống của TBS Logistics, tọa lạc tại địa chỉ số 09, đường DT 743, phường Bình Thắng, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Hiện tại kho của TBS Logistics là nhà kho hiện đại với các thiết bị xếp dỡ, quản lý lưu trữ, an ninh hàng hóa, dịch vụ khai thuê hải quan, đóng gói, nhãn mác… với mong muốn trở thành trung tâm trọng điểm logistics đáng tin cậy tại Việt Nam và là đối tác logistics chiến lược của khách hàng trong nước và quốc tế. TBS Logistics hy vọng đóng góp vào sự phát triển chung của hệ thống logistics vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - nơi mà lượng hàng container XNK đến 80% của cả nước.

Đầu tháng 7 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định về việc phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics trên địa bàn cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, sẽ tạo tiền đề cho dịch vụ logistics phát triển mạnh mẽ, chuyên nghiệp.

Lê Thu (báo Hải Quan online)

Doanh nghiệp Việt Nam tham dự Hội chợ Thực phẩm và Đồ uống quốc tế Anuga 2015

Thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, Cục Xúc tiến thương mại (XTTM) phối hợp với Cơ quan Xúc tiến nhập khẩu từ các nước đang phát triển của Hà Lan (CBI) tổ chức đoàn doanh nghiệp tham dự Hội chợ Thực phẩm và Đồ uống quốc tế Anuga 2015 từ ngày 10 – 14/10 tại Trung tâm Triển lãm Koelnmesse, thành phố Cologne, Đức.

Tỉ giá ngoại tệ

Mã NTMua tiền mặtBán
AUD  17,266.00 17,496.00
USD  22,650.00 22,740.00
EUR  23,914.00 24,174.00
GBP  28,161.00 28,571.00
HKD    2,882.00   2,942.00
JPY      197.73     200.73
RUB          -            -
SGD  15,858.00 16,028.00
THB        -       -
CAD  17,248.00 17,448.00
CHF  22,403.00 22,683.00
DKK           -       -
INR           -        -
KRW           -       -
KWD           -        -
MYR           -        -
NOK           -        -
SAR          -        -
SEK           -        -
(*) Thông tin tỷ giá chỉ mang tính chất tham khảo. Quý khách vui lòng liên hệ điểm giao dịch SHB gần nhất hoặc hotline 1800.58.88.56

Thông tin thời tiết


°C

Hanoi, Vietnam

humidity:%
  YWeather by enter-logic-seo.gr

Sản phẩm